Hôm nay, T.Tư 20 Tháng 8, 2014 5:42 pm

Múi giờ UTC + 7 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 1 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: tư tưởng HCM nè
Bài viết mớiĐã gửi: T.Hai 14 Tháng 11, 2011 4:09 pm 
Ngoại tuyến

Ngày tham gia: T.Tư 25 Tháng 5, 2011 11:21 am
Bài viết: 11
Đến từ: 09CĐTH1
ÔN THI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Phân tích nguồn gốc tư tưởng, lí luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những nguồn góc đó, nguồn gốc nào quan trọng nhất quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh? Tại sao?
a. Nguồn gốc tư tưởng, lí luận của tư tưởng Hồ Chí Minh
- Giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam:
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quí của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng-lí luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:
+ Truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất.
+ Lòng nhân nghĩa, tinh thần tương thân tương ái, ý thức cố kết cộng đồng.
+ Ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
+ Trí thông minh, tài sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc…
Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý thiêng liêng nhất,là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và dũng cảm của con người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc.
Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước đã thúc dục Nguyễn Tất Thành quyết chí re đi tìm đường cứu nước.
Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thật sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người. Chính thực tiển đó, Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý: “Dân ta có 1 lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mổi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thánh 1 làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” .
- Tinh hoa văn hóa nhân loại:
Kết hợp các giá trị văn hóa truyền thống của phương Đông với cá thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây, đó chính là nét đặc sắc trong quá trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh.
+ Đối với văn hóa phương Đông:
Hồ Chí Minh biết chắc lọc lấy những gì tinh túy nhất trong các học thuyết triết học, hoặc trong tư tưởng của Lảo Tử, Mạc Tử, Quản Tử… Người tiếp thu những mặc tích cực của Nho giáo. Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, đó là ước vọng về xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, là triết lý nhân sinh, tu tâm dưỡng tính, đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.
Về Phật giáo, Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân…, là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện, là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp; là việc đề cao lao động, chống lười biếng; là chủ trương sống không xa lánh với đời mà gắn bó với dân, với nước, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc… Đến khi đã trở thành là người mácxít, Người lại tiếp tục tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, vì thấy trong đó có những điều thích hợp với điều kiện của nước ta.
+ Đối với vă hóa phương Tây:
Người sớm làm quen với văn hóa Pháp, tìm hiểu các cuộc cách mạng ở Pháp v2 ở Mỹ. Người trực tiếp đọc và tiếp thu các tư tưởng về tự do, bình đẳng qua các tác phẩm của các nhà khai sáng (nước Pháp). Người tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp năm 1791, các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn Mỹ 1776.
Tóm lại trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã biết tự làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu vừa gạn lọc để từ tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừ và đổi mới, vận dụng và phát triển.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin:
Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh diễn ra trên nền tảng của những tri thức văn hóa tinh túy được chắc lọc, hấp thu và 1 vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt dộng đấu tranh vì mục đích tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc.
Bản lĩnh chính trị đó đã nâng cao khả năng độc lập tự chủ và sáng tạo ở Người khi vận dụng những nguyên lý cách mạng của thời đại vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Quá trình đó cũng diễn ra 1 cách chân thành và giản dị, tưởng chừng như đơn giản và tự nhiên, nhưng thật ra là chặn đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt.
Người tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin Theo phương pháp Mácxít nắm cái tinh thần, cái bản chất, tiếp thu có chọn lọc, không rập khuông máy móc, không sao chép giáo điều. Người vận dụng lập trường, quan điểm, phuong pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những lý luận có sẵn trong sách vở.
+ Thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm con đường cứu nước: “trong cuộc đấu tranh vừ nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới”, “bây giờ học thuyế nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhấ là chủ nghĩa Lênin, chính là do cố gắng cận dụng lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng 1 cách sáng tạo, phù hợp với thực thế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi to lớn”.
b. Trong những nguồn gốc đó thì nguồn gốc chủ nghĩa Mác-Lênin là quan trọng nhất, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh.
¬* Tại vì :
- Về mặt lý luận :
+ CN MLN là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng HCM
+ Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của CN MLN mà HCM có cơ sở tổng kết những kiến thức và những kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc.
Câu 2: Nêu các giai đoạn hình thành và phát triển của tư tưỡng Hồ Chí Minh. Trong những giai đoạn đó, giai đoạn nào của Hồ Chí Minh có ý nghĩa vạch đường đi cho cách mạng Việt Nam? Hãy chứng minh.
a. Các giai đoạn hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh:
1. Thời kì trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.
2. Thời kì từ 1911-1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
3. Thời kì từ 1921-1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mâng Việt Nam.
4. Thời kì từ 1930-1945: Vượt qua thử thách, kiên trì nắm vững lập trường cách mạng.
5. Thời kì từ 1945-1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển và hoàn thiện.
b. Trong những giai đoạn đó, giai đoạn từ 1921-1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.
* Chứng minh:
* Thực tiễn:
- Tiếp tục hoạt dộng và tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Kết hợp nghiên cứu với xây dựng lý luận
- Hình thành hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam.
Trong giai đoạn từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc có những hoạt động thực tiễn và hoạt động lí luận hết sức phong phú, sôi nổi trên địa bàn nước Pháp (1921-1923); Liên Xô (1923-1924), Trung Quốc (1924-1927), Thái Lan ( 1928-1929). Trong khoản thời gian này, thư tưỡng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản.
Người viết nhiều bài báo cáo tố cáo chủ nghĩa thực dân, đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc, khẳng định giải phóng dân tộc thuộc địa là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới.
Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927), Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930) và nhiều bài viết khác của Người trong giai đoạn này là sự phát triển và tiếp tục hoàn thiện tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, thể hiện những quan điểm lớn và độc đáo, sáng tạo về con dường cách mạng Việt Nam. Những tác phẩm có tính chất lý luận nói trên chứa đựng những nội dung căn bản sau đây:
+ Bản chất của chủ nghĩa thực dân là “ăn cướp” và “giết người”. Vì vậy, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản và là 1 bợ phận của cách mạng vô sản thế giới. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ khắn khít với nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Ở đây Nguyễn Ái Quốc muốn nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ánh áp bức, bóc lột của chủ nghĩ thực dân.
+ Cách mạng thuộc địa trước hết là 1 cuộc “dân tộc cách mệnh” đánh đuổi bọn ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợi cần phải thu phục, lôi cuốn được nông dân đi theo, cần xây dựng khối nông dân liên minh làm động lực cho cách mạng. Đồng thời cần thu hút, tập hợp rộng rãi các giai cấp xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh chung của Hội.
+ Phải đoàn kết và liên minh với các lực lượng cách mạng quốc tế, song phải nêu cao tinh thần tự lực tự cường, không được ỷ lại6 chờ đợi sự giúp dỡ của quốc tế.
+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải là việc của 1 người. Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng để tranh chấp từ thấp đến cao. Đây là quan điểm cơ bản đầu tiên của Nguyễn Ái quốc về nghệ thuật vận động quần chúng và tiến hành đấu tranh cách mạng.
+ Cách mạng muốn thành công trước hết cần phải có Đảng lãnh đạo, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin và phải có 1 đội ngũ sẵn sàng hy sinh chiến đấu vì lí tưởng của Đãng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lí tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân loại.
Những quan điểm, tư tưởng cách mạng trên đây của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX được giới thiệu trong các tác phẩm của Người, cùng các tài liệu Mácxít khác theo những đường dây bí mật được truyền về trong nước, dến cá tầng lớp nhân dân Việt Nam, tạo ra 1 sung lực mới, 1 chất men kích thích, thúc đẩy phong trào dân tộc phát triển theo xu hướng mới của thời đại.
* Thực tiễn lịch sử
Cách mạng từ khi có Đảng ra đời cho đến nay toàn bộ những luận điểm cơ bản về con đường cách mạng được Bác Hồ xác định trong giai đoạn (1921-1930) đều được Đảng ta vận dụng và phát triển vào thực tiễn.
+ Xác định giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
+ CM giải phóng dân tộc và CM chính quốc có quan hệ với nhau.
+ Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu ( thể hiện là CM DT DCND)
+ Phát huy sức mạnh quần chúng.
Câu 3: Trình bày những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về dân tộc. Để thực hiện luận điểm. Vận dụng về tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc chúng ta phải làm gì?
a. Những luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc:
Luận điểm 1: Thực chất của vần đề dân tộc thuộc địa:
- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh không bàn về vấn đề dân tộc nói chung. Xuất phát từ nhu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam, đặc điểm của thời đại. Người dành sư quan tâm đến các dân tộc thuộc địa, vạch ra thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xoá bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập Nhà nước dân tộc độc lập.
- Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
+ Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại. Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là chủ nghĩa xã hội. Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh viết: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới Xã hội cộng sản”.
Con đường đó kết hợp trong đó cả nội dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; xét về thực chất chính là con đường độc lập dân tộcgan81 liền với chủ nghĩa xã hội.
Luận điểm 2: Độc lập dân tộc- nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa:
- Phương thức tiếp cận – từ quyền con người.
- Nội dung độc lập dân tộc:
+ Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí Minh nói: “ tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn nói, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.
Năm 1919 Người hởi đến hội nghị Vécxây bản yêu sách gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Đầu năm 1930, Người soạn thảo cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng với tư tưởng cốt lõi là độc lập, tự do cho dân tộc.
Tháng 5-1941, Người chủ trì hội nghị Trung ương 8, viết thư kính chào đồng bào, chỉ rõ “trong lúc này quyền lợi giải phóng dân tộc cao hơn hết thảy”.
Cách mạng tháng 8 thành công, Người đọc Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam.
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, Người ra lời kêu gọi: “không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh từ miền Nam ra miền Bắc, Hồ Chí Minh nêu cao chân lý của thời đại: “không có gì quý hơn độc lập tự do”.
+ Độc lập, tự do là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giải phóng dân tộc “không có gì quý hơn độc lập tự do” là khẩu hiệu hành động của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn gốc cỗ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Vì thế, Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng dân tộc của Việt Nam mà còn là “người khởi xướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”.
Luận điểm 3: Chủ nghĩa dân tộc, Một động lực lớn của đất nước:
Xuất phát từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã dánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trước bất cứ thế lực ngoại xâmnào, chủ nghĩa dân tộc chân chính là 1 bộ phận tinh thần quốc tế; việc nắm lấy và phát huy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc chân chính là ”1 chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời”.
Luận điểm 4: Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặc chẽ với nhau:
Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, nhưng Người luôn dứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc. Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp của Hồ Chí Minh thể hiện:
- Khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất của Dảng cộng sản trong quá trình cách mạng Việt Nam.
- Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù.
- Gắn mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Luận điểm 5: Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Khác với con đường cứu nước của ông cha, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa phong kiến hoặc chủ nghĩa tư bản, con dường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối quan hệ khắn khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng con người. Chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức, bóc lột, thiết lập 1 nhàn nước thực sự của dân, do dân, vì dân, mới đảm bảo cho người lao động có quyền làm chủ, mới thực hiện được sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người. Hồ Chí Minh nói ”Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập chũng chẳng có nghĩa lý gì”. Do đó, sau khi giành độc lập, phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Luận điểm 6: Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp:
Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc. Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện giải phóng giai cấp. Vì thế, lợi ích của giai cấp phải phục tùng dân tộc.
Luận điểm 7: Giữ vững độc lập dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập dân tộc của các dân tộc khác:
Là 1 chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh kohng6 chỉ đấu trang cho độc lập của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức.
- Nêu cao tinh thầ dân tộc tự chủ, thực hiện nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
b. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc chúng ta cần phải làm gì?
Chúng ta cần phải biết khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bào vệ đất nước, nhận thức và giải quyế vấn đề dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em và trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
* Ý nghĩa của việc học tập:
- Thấy rõ vai trò to lớn, vĩ đại của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Nhận thức đúng đắng sức mạnh của dân tộc, củng cố niềm tự hào, tự tôn dân tộc, từ đó có những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong xây dựng, phát triển dân tộc giàu mạnh, phồn vinh.
Câu 4: Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh rằng luận điểm: Cách mãng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở “chính quốc” là 1 sáng tạo lớn của chũ tịch Hồ Chí Minh.
a. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo.
- Sức sống của chủ nghĩa tu bản tập trung ở các thuộc địa.
- Khả năng cách mạng to lớn của nhân dân các dân tộc thuộc địa.
- Chủ nghĩa dân tộc là 1 động lực lớn ở các nước đang đấu trang giành độc lập.
- Công cuộc giải phóng nhân dân thuộng địa chỉ có thể thực hiện được bằng sự nổ lực tự giải phóng.
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa), nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặc ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó là nguyên nhân sâu xa dẩn tới các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhàn máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển dụng binh lính bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó. Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa”. Người thẳng thắng phê bình 1 số Đảng cộng sản không thấy được vấn đề quan trọng đó. Người chỉ rõ: “bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng nhưng các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kì quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, chúng tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý”.
Trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, cách mạng thuộc địa có tầm quan trọng đặc biệt. Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải “làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cahc1 biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho 1 Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là 1 trong những cái cánh cửa cách mạng vô sản”.
Tại phiên họp thứ 22 Đại hội V Quốc tế cộng sản (1-7-1924), Nguyễn Ái Quốc phê phán các đảng cộng sản ở Pháp, Anh, Hà Lan. Bỉ và các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa chưa hình thành chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa.
Trong khi yêu cầu Quốc tế cộng sản và các đỏng cộng sản quan tâm đến cách mạng thuộc địa, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nổ lực tự giải phóng.
Vận dụng công thức của C.Mác “sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân”. Người đi đến luận điểm: “cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện bằng sự nổ lực của bản thân anh em”.
Người dánh giá cao sức mạnh của 1 dân tộc vùng dậy chống đế quốc thực dân. Người chủ trương phát huy nổ lực chủ quan của dân tộc, tránh tư tưởng bị động trong chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài. Tháng 8-1945, người kêu gọi: “toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Người nói: “kháng chiến trường kì gian khổ đồng thời phải tự lực cánh sinh. Trông vào sức mình… Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. 1 dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
b. Quan hệ của CM thuộc địa với CM vô sản ở chính quốc
- Cùng chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
- Quan hệ bình đẳng với CM vô sản.
- CM giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước
Theo HCM, giữa CM giải phóng dân tộc ở thuộc đỉa và CM vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻthù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng chứ không là quan hệ lệ thuộc, hoặc quan hệ chính – phụ.
Nhận thức được vai trò, vị trí chiến lượt của CM thuộc địa và sức mạnh dân tộc, NAQ cho rằng CM giải phóng dân tộc ở các thuộc địa có thể giành thắng lợi trước CM vọ sản ở chính quốc.
Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá rị lý luận và thực tiễn to lớn, một cống hiến rất quan trọng của HCM vào kho tang lý luận của chủ nghĩa MLN, đã được thắng lợi của phong trào CM giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong gần một thế kỷ qua chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
* Liên hệ:
+ Cách mạng nước ta dã giành thắng lợi (cách mạng tháng 8-1945), trong khi đó cách mạng chính quốc chưa giành thắng lợi cho thấy Bác Hồ đã vận dụng chủ động sáng tạo vào điều kiện thực tế ở Việt Nam.
+ Chiến tháng 1975 cho thấy sự vận dụng, chủ động sáng tạo của Bác Hồ vào điều kiện thực tế ở nước ta.
Câu 5: Trình bày quan điểm về những đặc trưng bản chất, về bước đi, phương châm thực hiện và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh. Đảng ta đã vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay như thế nào?
a. Đăc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội
- Đó là 1 chế độ chính trị do nhân dân làm chủ
Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ, nhân dân là chủ và nhân dân lao động làm chủ. Nhà nước là của nhân dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân mà nồng cốt là liên minh côn-nông-trí thức, do đảng cộng sản lãnh đạo.
Mọi quyền lực trong xã hội đều tập trung trong tay nhân dân. Nhân dân đoàn kết thành 1 khối thống nhất để làm chủ nước nhà. Nhân dân là người quyết định vận mệnh cũng như sự phát triển của đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh coi nhân dân có vị trí tối thượng trong mọi cấu tạo quyền lực. Chủ nghĩa xã hội chính là sự nghiệp của chính bản thân nhân dân, dựa vào sức mạnh của toàn dân để đưa lại quyền lực cho nhân dân.
- Chủ nghĩa xã hội là 1 chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
Đó là 1 xã hội có nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở năng xuất lao động xã hội cao, sức sản xuất luôn luôn phát triển với nền tảng phát triển kinh tế kỹ thuật, ứng dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật của nhân loại.
- Chủ nghĩa xã hội là chế độ người không còn bóc lột người.
Đây là 1 vấn đề được hiểu nó như là 1 chế độ hoàn chỉnh, đạt đến độ chín muồi. Trong chủ nghĩa xã hội, không còn bóc lột, áp bức bất công, thực hiện chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất và thực hiện nguyên tắc theo lao động. Đó là 1 xã hội được xây dựng trên nguyên tắc công bằng, hợp lý.
- Chủ nghĩa xã hội là 1 xã hội phát triển cao về xã hội, đạo đức.
Đó là 1 xã hội có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người được giải phóng, có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của xã hội tự nhiên.
Các đặc trưng nêu trên là hình thức thể hiện 1 hệ thống giá trị vùa kế thừa các di sản của quá khứ, vừa được sáng tạo mới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là hiện thân đỉnh cao của tiến trình tiến hóa nhân loại. Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là sự tổng hợp quyện chặt ngay trong cấu trúc nội chặc của nó, 1 hệ thống giá trị làm nền tảng diue962 chỉnh các quan hệ xã hội, đó là độc lập, tự do, bình đẳng, công bằng dân chủ đảm bảo quyền lợi con người, bác ái, đoàn kết, hữu nghị,… trong đó có những giá trị tạo tiền đề, có giá trị hạt nhân. Tất cả những giá trị cơ bản này là mục tiêu chủ yếu của chủ nghĩa xã hội. 1 khi tất cả các giá trị đó đã đạt được thì loài người sẽ vuôn tới lý tưởng cao nhất của chủ nghĩa xã hội, đó là: “liên hợp tự do của những người lao động” mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã dự báo. ở đó, cá tính con người được phát triển đầy đủ, năng lực con người được phát huy cao nhất, giá trị con ngườ được thực hiện toàn diện.
Nhưng theo Hồ Chí Minh, đó là 1 quá trình phấn đấu khó khăn, gian khổ, lâu dài, dần dần và không thể nông nổi.
b. Phương châm
- Dần dần từng bước vững chắc trên cơ sở xây dựng 1 cách đúng đán bước đi.
- Tổng kết kinh nghiệm của cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đồng thời học tập kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới.
- Có kế hoạch và có quyết tâm của toàn đảng, toàn dân, toàn quân.
Hồ Chí Minh đề ra 2 nguyên tắc:
+ Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là 1 hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế, cần quán triệt các nguyên lú cơ bản cả chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến, nhưng không được sao chép, máy móc, quan điều. Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam có thể làm khác Liên xô, Trung Quốc và các nước khác vì Việt Nam có điều kiện cụ thể khác.
+ Hai là, xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân.
Phương châm thực hiện bước đi trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: dần dần, thận trọng từng bước, từ thấp đến cao, không chủ quan nôn nóng và việc xác định các bước đi phải luôn luôn căn cứ vào điều kiện khách quan quy định. “tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, không có nghĩa là làm bừa làm ẩu, “đốt cháy giai đoạn”, chủ quan duy ý chí, mà phải làm vững chắc từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế.
c. Biện pháp:
- Có nhiều biện pháp khác nhau
- Quan trọng nhất là phát huy tài dân, sức dân, của dân
Cùng với các bước đi, Hồ Chí Minh đã gợi ý nhiều phương pháp, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, Người đã chỉ đạo 1 số cách làm cụ thể như sau:
+ Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính.
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp quyết tâm để thực hiện thắng lợi kế hoạch.
+ Trong điều kiện nước ta, phải huy động hết tiềm năng, nguồn lựcco1 trong dân; đem tài chính, sức dân, để đam lại lợi ích cho dân. Nói cách khác, phải biến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành sự nghiệp của toàn dân do đảng lãnh đạo. Vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền là tập hợp lực lượng, đề ra đường lối, chính sách để huy động và khai thác triệt để các nguồn lực của dân, vì lợi ích của quần chúng lao động.
d. Đảng ta đã vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay:
Vận dụng tư tưởng HCM về chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng nhất.
- Một là kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh là người tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. độc lập dân tộc và chù nghĩa xã hội cũng chính là mục tiêu cao cả, bất biến của toàn đảng, toàn dân ta. Dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân ta đã đấu tranh giành được độc lập dân tộc, từng bước quá đô lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện nước ta, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sau khi giành được độc lập dân tộc phải đi lên chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được khác vọng của dân tộc, độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo ấm, cho mọi người dân Việt Nam. Thực tiển phát triển đất nước cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện iên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội. chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc.
- Hai là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn gốc áp lực, trước hết là nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn kiền với gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự phát triển kinh tế tri thức là con đường tát yếu phải đi của đất nước ta. Chúng ta phải tranh thủ thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, của điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế để nhanh chóng biến nước ta thành 1 nước công nghiệp theo hướng hiện đại, sánh vai với các cường quốc 5 châu như mong muốn của Hồ Chí Minh.
- Ba là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Xây dựng chủ nghĩa phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Ngày nay, sức mạnh của thời đại tập trung ở cuộc cách mạng khao học công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa.. Chúng ta cần ra sức ranh thủ tối đa các cơ hội do xu thế đó tạo ra để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phải có cơ chế, chính sách đáng để thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lí những công nghệ hiện đại, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Bốn là chăm lo vây dựng đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội, phát huy quyen26 làm chủ của nhân dân phát huy vai trò lãnh đạo củ đảng cách mạng chân chính, do dân và vì dân.
+ Cây dựng đảng cộng sản cầm quyền, 1 đảng “ đạo đức, văn minh” cán bộ, đảng viên gắn bó máu thịt với nhân dân, vừa là người hành động, lao động nhân dân, vừa hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, gương mẫu trong mọi việc.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, vì nhân dân: thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia 1 cách đồng bộ để phục vụ đời sống nhân dân.
Bằng cá giải pháp thiết thực, cụ thuể, hình thành 1 đội ngũ các bộ liêm khiết, tận hiếu với dân, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy chính quyền những “ông quan cách mạng” lạm dụng quyền lực của dân để mưu cầu lợi ích riêng; phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước.
- Giáo dục mọi tầng lớp nhân dân ý thức biết cách làm giàu cho đất nước, hăng hái đẩy mạnh tăng gia sản xuất kinh doanh gắn liền với tiết kiệm để xây dựng nước nhà.
Câu 6: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp công nhân và nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam.
a. Bản chất của giai cấp công nhân:
* Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân:
- Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chát giai cấp công nhân”.
- Những quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân thủ những quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minhvề bản chất giai cấp của Đảng là Đảng ta mang bản chất giai cấp công nhân. Điều này giống như Đảng ta đã mang tên là Đảng lao động nhưng bản chất giai cấp của Đảng chỉ là bản chất giai cấp công nhân. (trong báo cáo chính trị Đại hội II)
+ Khi nêu lên đảng ta còn là đảng của nhân dân lao động và toàn dân tộc, Hồ Chí Minh từng nêu lên toàn bộ cơ sở lí luận và nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng mà những nguyên tắc này tuân thủ chặc chẽ học thuyết về đảng kiểu mớicua3 giai cấp vô sản của V.I.Lênin.
+ Đảng có đầy đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo đất nước thực hiện những mục tiêu của cách mạng.
+ Nền tảng lý luận và tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin; mục tiêu của đảng cần đạt tới chủ nghĩa cộng sản, đảng tuân thủ 1 cách nghiêm túc, chặc chẽ những nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.
Hồ Chí Minh phê phán những quan diểm không đúng như không đánh giá đúng vai trò to lớn của giai cấp công nhân cũng như quan điểm sai trái chỉ chú trọng công năng mà không thấy rõ vai trò to lớn của các giai cấp, tầng lớp khác.
* Đảng cộng sản là đảng của nhân dân lao động, là đảng của dân tộc.
* Nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam
Khi huấn luyện cho cán bộ cách mạng năm 1925, Hồ Chí Minh khẳng định: “đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu kohng6 có bàn nam châm, chủ nghãi ấy lá chủ nghĩa Mác-Lênin”. Hồ Chí Minh đã ví chủ nghĩa Mác-Lênin như trí khôn của con người, như bàn chỉ nam định hướng cho con tàu đi là nói lên vai trò cực kì quan trọng của lý luận ấy trong tất cả các thời kỳ cách mạng. Theo người, chủ nghĩa Mác-Lêninh trở thành “cốt”, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hình động của Đảng cộng sản Việt Nam.
Khi tiếp nhận và vận dụng chủ nghãi Mác-Lênin, Hồ Chí Minh lưu ý:
- Một là việc học tập, nghiên cứu, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin phải luôn phù hợp với từng đối tượng.
- Hai là, việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin phải luôn phù hợp với tường hoàn cảnh.
- Ba là, trong quá trình hoạt động, đảng ta cần phải chú ý học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các đảng cộng sản khác, đồng thời đảng ta phải tổng kết kinh nghiệm của mình để bổ sung chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Bốn là, đảng ta phải tăng cường đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chú ý chống giáo điều, cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin; chống lại những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin.
Câu 7: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Tronh tình hình hiện nay, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải chú ý vấn đề gì?
a. Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng (5 nguyên tắc):
+ Tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng đảng. Giữa “tập trung” và “dân chủ” có mối quan hệ khắn khít với nhau, đó là 2 vế của 1 mnguyên tắc. Hồ Chí Minh viết về mối quan hệ đó như sau: “tập trung trên nền tảng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”. Hoặc người viết: “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do”. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là 1 quyền lợi mà cũng là 1 nghĩa vụ của mọi người.
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”.
+ Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Hồ Chí Minh giải thích về tập thể lãnh đạo như sau: “vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?
Vì 1 người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trong thấy, chỉ xem xét được 1 hoặc nhiều mặt của 1 vấn đề, không thể trong thấy và xem xét mọi mặt của 1 vấn đề.
Vì vậy cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì không thấy rõ mặt khác của vấn đề đó.
Góp kinh nghiệm và sự nhận xét của nhiều người thì vấn đề đó thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, không sai lầm”.
Về cá nhân phụ trách, Hồ Chí Minh cho rằng: “ việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi , kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho 1 người hoặc 1 nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy.
Nếu không có cá nhân phụ trách thì sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong.”
Đối với việc thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây đựng đảng, phải chú ý khắc phục tệ độc đoán chuyên quyền, đồng thời phải chống lại cả tình trạng dựa dẩm tập thể không dám quyết đoán, không chịu trách nhiệm.
+ Tự phê bình và phê bình:
Mục đích của tự phê bình là để làm cho phần tốt của mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗ tổ chức tốt lên, phần xấu mất đi; vươn tới chân, thiện, mĩ. Mục đích này được quy định bởi tính tất yếu trong quá trình hoạt động của đảng ta, vì đảng là 1 thực thể của xã hội. Đảng gồm các tầng lớp của xã hội, đội ngũ của đảng gồm: những người ưu tú. Đảng cũng không tránh khỏi những khuyết điểm, không phải mọi người đều tốt, mọi việc đều hay. Mỗi người đều có cái thiện, cái ác. Hồ Chí Minh cho rằng thang thuốc tốt nhất là tự phê bình và phê bình.
Thái độ, phương pháp phê và tự phê bình được Hồ Chí Minh nêu rõ ở nững điểm như sau: “phải tiến hành thường xuyên như ta ruẩ mặt hàng ngày, phải thẳng thắn chân thành, trung thực, không nể nang, không giấu giếm và cũng không thêm bớt khuyết điểm”. “Phải có tình thuong lẫn nhau”.
+ Kỷ luật nghiêm minh tự giác:
Sức mạnh của 1 tổ chức cộng sản và mỗi đảng viên bắt nguồn từ ý thức kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Tính nghiêm minh của kỷ luật đảng đòi hỏi tất cả mọi tổ chức đảng, tất cả mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật của Nhà nước, trước mọi quyết định của đảng. Đồng thời, đảng ta là 1 tổ chức gồm những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, , cho nên tự nguyện là 1 yêu cầu bắc buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Tính nghiêm minh, tự giác đòi hỏi ở đảng viên phải gương mẩu trong cuộc sống, công tác. Uy tín của đảng bắt nguồn từ sự gương mẩu của mỗi đảng viên trong việc tự giác tuan thủ kỹ luật của đảng, của Nhà nước, của toàn thể nhân dân.
+ Đoàn kết thống nhất trong đảng
Sự đoàn kết thống nhất trong đảng phải dựa trên cơ sở lí luyện của đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, cuong lĩnh, điều lệ đảng; đường lối quan điểm của đảng, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp. Đồng thời, muốn đoàn kết thống nhất trong đảng, phải thực hành dân chủ rộng rải trong đảng, thường xuyên nghiêm chỉnh phê và tự phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác, phải “sống với nhau có tình, có nghĩa”. Có đoàn kết tốt mới tạo ra cơ sở vững chắc để thống nhất ý chí và hành động, làm cho “đảng ta tuy đông nhưng khi tiến hành chỉ như 1 người”.
b. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và chỉnh đốn đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải chú ý:
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, đảng ta đẩy mạnh công tác xây dựng đảng trên tất cả các mặt: tư tưởng, lý luận, chính trị, tổ chức và cán bộ, đạo đức; làm cho đảng thực sự trong sạch, đạt dến tầm cao về đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử.
- Về chính trị: đó là đường lối chính trị đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi tình huống phức tạp, mọi bước ngoặc hiểm nghèo, mọi giai đoạn cách mạng khác. Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đảng biết tập trung giành thắng lợi cho từng bước đi lên cách mạng. Đó là đường lối cứng rắn về chiến lược, mềm dẻo về sách lược linh hoạt về biện pháp đấu tranh, tập hợp được lực lượng toàn dân, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế tạo thành sức mạnh vô địch của cách mạng.
- Về tư tưởng: đó là tư tưởng cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tấn công chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại giáo điều, bảo thủ. Trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đảng phải biết làm giàu trí tuệ của mình bằng việc kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những tinh hoa vă hóa của nhân loại, để giành thắng lợi cho cách mạng.
- Về tổ chức: đó là tổ chức chính trị trong sạch vững mạnh, một tổ chức chiến đấu kiên cường với nguyên tắc nền móng được tuân thủ nghiêm ngặc để khi hành động thì muôn người như 1. Đó là 1 tổ chức trọng chất lượng hơn số lượng, lấy việc nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu củ đảng là nhiệm vụthường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn đảng.
- Về đạo đức lối sống: cán bộ, đảng viên của đảng coi việc tu dưỡng đạo đức , cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nâng cao năng lực, gắn bó máu thịt với nhân dân, dám hy sinh xả thân vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. trong mối quan hệ, cán bộ, đảng viên không ngừng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để không ngừng hoàn thiện nhân cách, giành được niềm tin yêu trọn vẹn của nhân dân.
Chúng ta đã được xác định rất nhiều thành tựu trong công tác xây dựng đảng cầm quyền, nhưng bất cập, yếu kém, hạn chế cũng không phải ít. Nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của 1 bộ phận càn bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Những hạn chế này đang làm giảm sút niềm tin củ nhân dân với đảng. hạn chế ngăn lực lãnh đạo và chến đấu của đảng được chiếu rọi bởi ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng quan tâm xác định chỉnh đốn về mọi mặt, xác định đổi mới và chỉnh đốn đảng đáp ứng nhu cầu phá triển của giai cấp và dân tộc là quy luật sống còn của đảng. chính vì ý nghĩa đó, việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng và xây dựng đảng trong sạch vững mạnh phải được quán triệt đến từng tổ chức cơ sở đảng, từng cán bộ đảng viên.
Câu 8: Phân tích những cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dại đoàn kết dân tộc. Ý nghĩa của luận điểm “đoàn khết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công?”.
a. Những cơ sở hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dại đoàn kết dân tộc
1. Đại doàn kết dân tộc là 1 vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thành công của công cuộc cách mạng
- Đại đoàn kết dân tộc là 1 chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài.
+ Trong thời đại mới muốn đánh bại thế lực đế quốc thực dân để giải phóng dân tộc, kết hợp tinh thần yêu nước, tập hợp tất cả lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết.
+ Đại đoàn kết dân tộc luôn luôn khẳng định là vấn đề sống còn.
+ Phải có chính sách, phương pháp phù hợp từng đối tượng, từng hoàn cảnh để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Đại đoàn kết dân tộc nhằm tập hợp lực lượng:
+ Hồ Chí Minh nói: “đoàn khết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công” => nhấn mạnh sự đoàn kết, đoàn kết thể hiện từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng. (gia đình đến xã hội, quốc gia đến quốc tế).
2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của đảng, của dân tộc.
- Đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực.
+ Từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hành động thực hiện của đảng phải được quán triệt.
- Đại đoàn kết dân tộc phải được khẳng định là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng..
+ Hồ Chí Minh chỉ rõ: “trước cách mạng tháng 8 và trong kháng chiến thì nhiệm vụ tuyên huyến là làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số được mấy việc: 1 là đoàn kết, 2 là làm cách ,mạng hay khacng1 chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích của tuyên truyền huyan61 luyện là: 1 là đoàn kết, 2 là xây dựng chủ nghĩa xã hội, 3 là đấu tranh thống nhất nước nhà.
- Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc.
3. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
- Khái niệm dân, nhân dân: vừa được hiểu với tư cách là mỗi con người Việt Nam cụ thể, vừa là 1 tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân, với những mối liên hệ cả quá khứ và hiện tại. Họ là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc và đại doàn kết dân tộc thực chất là đại đoàn kết toàn dân.
- Đại đoàn kết dân tộc: tập hợp tất cả mọi người dân vào 1 khối trong cuộc dấu tranh chung=> gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ, các quan hệ lại từ nhỏ-lớn, thấp-cao,trong-ngoài, trên-xuống, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của nhân dân Việt Nam, tự nguyện tự giác mỗi người, khoan dung độ lượng, giữ vững lập trường công nhân.
4. Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc, đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng tin vào nhân dân, tin vào con người.
- Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, pahi3 kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa đoàn kết của dân tộc.
Truyền thống này dược hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của môi người Việt Nam, được lưu truyền qua các thế hệ từ thời Hùng Vương dựng nướcn tới Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Truyền thống ấy là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi thiên tai địch họa, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.
- Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người, tin ở con người.
Lòng khoan dung độ lượng ở Hồ Chí Minh không phải là sách lực nhất thời, một thủ đoạn chính trị mà là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc, từ chính mục tiêu của cuộc cách mạng mà Người suốt đời theo đuổi.
5. Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Những lời kêu gọi, chiến lược cách mạng, biến sức mạnh vật chất thành lực lượng có tổ chức. Tổ chức chính là mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng tổ quốc khi được tập hợp, tổ chức lại thành khối vững chắc, được giác ngộ mục tiêu chiến đấu chung và hiện đại, theo 1 đường lối chính trị đúng đắn.
+ 1 mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, nơi tập hợp mọi công dân nước Việt, không chỉ ở trong nước mà bao gồm những người Việt Nam định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấm lòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về Tổ quốc Việt Nam, đều được coi là thành viên của mặt trận.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công – nông – trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động trên cơ sở bảo đảm lợi ít tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ lâu dài, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Câu 9: Trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về 1 nhà nước của dân, do dân, và vì dân?
Hồ Chí Minh có quan điểm nhất quán về xây dựng Nhà nước mới ở Việt Nam là 1 nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Đây là quan điểm cơ bản nhất của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Người sáng lập. Quan điểm đó xuyên suốt, có tính chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước cách mạng ở Việt Nam.
Quan điểm xây dựng Nhà nước của Hồ Chí Minh không những kế thừa mà còn phát triển hoc thuyết Mác-Lênin về học thuyết cách mạng.
Hiểu 1 cách tổng quát nhất quan điểm Nhà nước của nhân dân, do dân, vì dân, chúng ta thấy trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh những nội dung sau đây:
a. Nhà nước của nhân dân:
- Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tát cả mọi quyền lực trong Nhà nước và trong xã hội đều thuộng về nhân dân.
+ Quan điểm trên thể hiện trong hiến pháp do Người lãnh đạo soạn thảo: hiến pháp năm 1946 và 1959.
Hiến pháp 1946: tấ cả quyền bình trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra toàn dân phúc quyết. Nhân dân có quyền làm chủ về kinh thế, chính trị, văn háo, xã hội; bầu ra quốc hội cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thể hiện quyền tối cao của nhân dân.
+ Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm là chủ và dân là chủ. Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm ch3 có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân. Trong Nhà nước của dân, người dân thường hưởng mọi quyền dân chủ. Bằng thiết chế dân chủ, Nhà nước bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, đề nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực xã hội. Quyền lực nhân dân ở vị trí tối thượng. Điều này nhắc nhở những người lãnh đạo, những đại biểu của dân làm đúng chức trách và vị thế của mình không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, cậy thế với nhân dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân. Nhà nước việt Nam cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 2/9/1945 là Nhà nước tiến bộ chưa từng có trng lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì Nhà nước là Nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước.
b. Nhà nước do dân
- Nhân dân lập ra Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
* Nhân dân có đủ điều kiện cả về pháp luật tham gia quản lí Nhà nước. Người nêu rõ quyền của nhân dân, Nhà nước do dân tạo ra và nhanh6 dân tham gia quả lí ở chỗ:
+ Toàn bộ nhân dân bầu ra Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.
+ Quốc hội bầu ra chủ tịch nước, ủy ban thường vụ Quốc hội, hội đồng chính phủ.
+ Hội đồng chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, thực hiện các nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật.
+ Mọi công việc của bộ máy Nhà nước trong quản lí xã hội đều thực hiện ý chí của dân.
Như vậy, Nhàn nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Người nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là làm cho dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao trách nhiệm làm chủ, ý thức trách nhiệm chăm lo xã hội Nhà nước của mình. Hồ Chí Minh khẳng định: “việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có tráchn hiệm, ghé vai gánh vác 1 phần”. Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ.
- Nhân dân có quyền kiểm soát, giám sát và bãi miễn đại biểu:
- Nhân dân làm chủ nên nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu bàn và quyết định những vấn đề quốc tế dân sinh.
+ Quyền là chủ đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chổ có quyền bải miển những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tính nhiệm của nhân dân.
+ Theo Hồ Chí Minh, muốn bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước, phải xác định được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra. Cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặc chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quy định. Không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách là đại biểu của cử tri thì cử tri có quyền bãi miển tư cách đại biểu.
c) Nhà nước vì dân:
- Nhà nước vì dân là Nhà nước lấy lợi ích chính đáng của dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ 1 lợi ích nào khác. Đó là Nhà nước trong sạch, không có bất kì 1 đặc quyền, đặc lợi nào.
+ Người nhấn mạnh: “moi đường lối, chính sách đều chỉ nhằm đưa lị quyền lợi cho nhân dân. Việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Dân là gốc của nước. Phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chổ ở, phải làm cho dân được học hành”. Cả 1 đời Người “chỉ có 1 mục đích chính là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân”. Hồ Chí Minh viết: “khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiệm nghèo là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẩn nhục cố gắng cũng vì mục đích đó”.
+ 1 Nhà nước vì dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh là từ Chủ tịch đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải “làm quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Đối với chức vụ Chủ tịch nước của mình, Hồ Chí Minh cũng quan niệm là do dân ủy tháccho và nhưn vậy phải phục vụ nhân dân, tức là làm đầy tớ cho nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ đã gánh chức vụ Chủ tịch vì đồng bào đã ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như 1 người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tội lui, thì tôi rất vui lòng lui. Riêng phần tôi thì làm 1 cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính liếu gì với vòng danh lợi.
Câu 10: Trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam hiện nay? Để xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng hiện nay thwo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải làm gì?
a) Về bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước.
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được coi là nhà nước của dân, do dân, vì dân, nhưng tuyệt nhiên nó không phải là “nhà nước toàn dân” hiểu theo nghĩa Nhà nước phi giai cấp. Nhà nước bao giờ, ở đâu cuãng mang bản chất của 1 giai cấp nhất định. Nhà nước Việt Nam mới, theo quan điểm của Hồ Chí Minh là 1 Nhà nước mang bản chất công nhân vì:
* Một là, Nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo, điều này được thể hiện:
- Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước giữ vững và tăng cường bản chta1 giai cấp công nhân. Việc xác định bản chất giai cấp công nhân của Nhàn nước là 1 vấn đề cơ bản của hiến pháp. Lời nói đầu của hiến pháp 1959: “ Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh nồng cốt giữa liên minh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức do giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo”.
- Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp, là nói đến cách lãnh đạo cho phù hợp với từng thời kì. Trong thời kì Hồ Chí Minh làm chủ tịch nước, đất nước ta phải vừa tiến hành kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng và bảo vệ tổ quốc, vừa lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chế đô mới. Do đó, phương thức lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước ta trong thời kì đó không giống với thời kì sau này. Song trong tư tưỡng Hồ Chí Minh những vấn đề cơ bản về phương thức lãnh đạo cũa đảng chung cho các thời kì đó là:
+ Đảng lãnh đạo bằng đường lối, quan điểm, chủ trương để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch.
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên của mình trong bộ máy, cơ quan Nhà nước.
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra.
Hai là, bản chất giai cấp của Nhả nước ta thể hiện ở tính định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển đất nước. Được thể hiện trong quan điểm của Hồ Chí Minh khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời.
Ba là, bản chất giai cấp công nhân của Nhả nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh rất chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy, cơ quan Nhà nước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phát huy cao độ tập trung thống nhất quyền lực để tất cả mọi quyền lực vào tay nhân dân.
b) Bản chất giai cấp công nhâ thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước.
Hồ Chí Minh thành công trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp dân tộc trong xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Giải quyết hài hòa, thống nhất bản chất giai cấp với tính nhân dân, tính dân tộc.
- Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rất nhiều thế hệ người Việt Nam.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX dân tộc ta rơi và cuộc khủng hoảng đường lối cách mạng. Trong cuộc kháng chiện chống Pháp, các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhà cách mạng chưa giành được thắng lợi. Từ năm 1930 đảng ta ra đời thì sự lớn mạnh của giai cấp công nông với đội tiền phong của nó là Đảng cộng sản Việt Nam đã vuột qua các hạn chế và lđ thắng lợi cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, đấu tranh giành chính quyền lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
- Tính thống nhất còn biểu hiện ở chổ Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích dân làm cơ bản.
- Hồ Chí Minh khẳng định: “lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và toàn dân tộc là 1. Nhà nước ta thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân và của toàn dân tộc”.
- Trong thực tế, Nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chine61 để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng 1 nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ của Thế giới. Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đi lên chủ nghĩa cộng sản là con dường mà Hồ Chí Minh và đảng ta đã xác định cũng là sự nghiệp chính của nước nhà.
c. Để xây dựng Nhà nước ngang tầm nhiệm vụ cách mạng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta phải:
Hiện nay toàn đảng toàn dân tích cự thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dười sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Nhà nước đó được xây dựng trên nền tàng lý luận Má-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nững điều kiện thực tế hiện nay của thế kỉ đẩy mạnh chông nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, thế kỉ mở cửa, hội nhập quốc tế.-
- Nhà nước đảm bảo quyền làm chủ thật sự của nhân dân.
+ Đây làn nội dung yêu cầu cơ bản trong xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng phải đảm bảo phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân trên tất cả lĩnh vực. Việc mở rộng dân chủ đi đôi pháp chế xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quan trọng. Quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, đưa hiến pháp, pháp luật vào cuộc sống. Đảm bảo cho mọi người bình đẳng trước pháp luật, xử phạt nghiêm minh mọi hành động vi phạm pháp luật (vi phạm do tập thể hoặc cá nhân gây ra). Có như vậy dân mới tin, đảm bảo được tính nhân dân của Nhà nước ta.
+ Chú ý thực hiện những quy tắc dân chủ trong các cộng đồng dân cư, tùy theo điều kiện của từng vùng, miền mà các quy tắc đó không được trái các quy định của pháp luật.
- Kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước
+ Cải cách và xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước, đảm bảo 1 nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh. Cải cách hành chính theo hướng dân chủ trong sạch, vững mạnh, phục vụ đắc lực và có hiệu quả đối cới nhân dân. Kiên quyết khắc phục quan liêu, hách dịch cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu, tham nhũng, bộ máy cồng kềnh, kém hiệu lực, sa sút phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực thực hành nhiệm vụ công chức kém cỏi.
+ Cải cách cá thủ tục hành chính, đề cao trách nhiệm cá nhân trong việc giải quyết khiếu kiện công dân theo quy định pháp luật. Tiêu chuẩn hóa cũng như xắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức vửa có đức, có tài tinh thông chuyên môn nghiệp vụ. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên bảo đảm chất lượng.
- Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của đảng dối với đất nước
Công cuộc đổi mới chỉnh đốn đảng gắn liền với tăng cường sự lãnh đạo của đảng, Nhà nước. Đây là trách nhiệm cực kì quan trọng của đảng với tư cách đảng cầm quyền, vận dụng.
+ Lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối chủ trương của đảng, bảo đảm sự lao động của đảng phát huy vai trò quản lú của Nhả nước, đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước. Lãnh đạo bằng đường lối, bằng tổ chức bộ máy của đảng trong cơ quan Nhà nước, bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên hoạt động trong Nhà nước bằng công tác kiểm tra, đảng không là thay công việc quản lý củ Nhả nước. Đảng thống nhất lao động công tác cán bộ trong hệ thống quản trị trên cơ sở đảm bảo(…), nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước theo luật định. Bản chất, tính chất của Nhả nước ta gắm liền vớ vai trò, trách hiệm của Đảng cầm quyền, do đó, đến lượt đảng, 1 tiền đề tất yếu được đặt ra là sự trong sạch, vưỡng mạnh của Đảng cộng sản Việt Nam chính là yếu tố quyế định thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Câu 11: Trình bày những chuẩn mực cơ bản của người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyên tắc xây dựng đạo dức cách mạng? Từ đó liên hệ bản thân
a. Những chuẩn mực cơ bản của người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyên tắc xây dựng đạo dức cách mạng
- Trung với nước, hiếu với dân
“Trung” với “hiếu” theo khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất, cũng là phẩm chất đạo đức bao trùm nhất “trung với vua, hiếu với cha mẹ”.
Hồ Chí Minh đã mượn khái niệm “trung, hiếu” trong tư tưởng đạo đức truyền thống dân tộc và đưa vào nó 1 nội dung mới: “trung với nước, hiếu với dân” tạo nên 1 cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Người nói: “đạo đức cũ nhưn người đầu ngược xuống đất chân chống lên trời. Đạo đức mới như người 2 chân đứng vững dưới đất, đầu ngửng lên trời”.
Hồ Chí Minh cho rằng trung với nước phải gắn liền hiếu với dân. Vì nước là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của nước, oa nhiêu quyền hành với lực lượng dều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cán bộ là đầy tớ của dân chứ không phải quan cách mạng.
Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước, trung thành với con đường đi lên của đất nước; là suốt đời phấn đấu cho đảng, cho cách mạng. Hiếu với dân thể hiện ở chổ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng. Để làm được như vậy, phỉ gần dân, kính trọng và học tập nhân dân, phải dực vào dân và lấy dân làm gốc. Đối với cán bộ lãnh đạo, Hồ Chí Minh yêu cầu phải nắm rõ dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày ở mổi người, là đại cương đạo đức Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ thực hiện mà bắt nhân dân tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân làm theo dà để đem lại hạnh phúc cho dân. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là 1 biểu hiện cụ thể, 1 nội dung của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh đã lọc bỏ những nội dung không phù hợp và đưa vào nội dung mới đáp ứng yêu cầu của cách mạng
* Cần là siêng năng, chăm chỉ; lao động co kế hoạch, có hiệu quả, có năng xuất cao với tinh thần tự lực cánh sinh
* Kiệm là tiết kiệm ( tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, thiết kiệm của cải,…) của nước của dân; “kohng6 xa xỉ, không hoan phí, không bừa bãi” kohng6 phô trương hình thức, kohng6 liên hoan, chè chén lu bu.
* Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân “phải trong sạch, kohng6 tham lam, tiền của, địa vị, danh tiếng.
* Chính là thẳng thắn, đứng đắn. Người yêu cầu: “đối với mình không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa chữa cái dở của mình. Đối với người, không nịnh người, thật thà, không dối trá. Đối với việc phải để việc công lên trên, việc thiện nhỏ mấy cũa làm, việc ác nhỏ mấy cũng tránh.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặc chẽ với nhau, ai cũng phải thực hiện, song cán bộ, đảng viên phải là người thực hành trước để làm kiểu mẩu cho dân. Người cho rằng những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hạn. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọc của dân.
* Chí công vô tư là công bằng, công tâm, kohng6 thiên tư, thiên vị, làm việc gì cũng không nghĩ mình trước, chỉ biết vì đảng, vì dân tộc “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, từ bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá hân theo xã hội là lối sống ít kỷ, biết đến cá nhân, thu vén cho riêng mình, thấy công lao mình mà quên công lao của người khác. Chủ nghĩa cá nhân là đồng minh của đế quốc, thứ vi trùng rất độc. Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, coi thường tập thể, tự cao tự đại, độc đoán… Đó “là 1 thứ rất gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dổ dành người ta đi xuống dốc”. Chủ nghãi xã hội không thể thắng lợi nếu không bài trừ chủ nghĩa cá nhân.
- Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
+ Là 1 trong những phẩm chất đạo đức tốt đẹp nhất. Người nói người cách mạng là người giàu tình cảm, có tố chất cách mạng mới đi làm cách mạng. Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con người mà chấp nhận mọi gian khổ hy sinh để dem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc cho con người.
+ Tình yêu thương đó là 1 tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột không phân biệt màu da dân tộc. Nếu không có tình yêu thương như vậy thì không thể nói đến cách mạng, cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
+ Tình yêu con người phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân, thể hiện mối quan hệ bạn bè, đồng chí, anh em,… Đòi hỏi mỗi người phải chặc chẽ, nghiêm khắc với mình, rộng rãi, độ lượng, giàu lòng vị tha với người khác, tôn trọng những quyền con người, nâng con người lên, kể cả nững người nhất thời lầm lạc, chứ không phải là thái độ dĩ hào vi quý, không phải hạ thấp, kohng6 phải vùi dập con người. Người dạy: “hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc ban nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”. Trong di chúc Người căn dặn: “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
- Có tinh thần quốc tế trong sáng
+ Chủ nghĩa quốc tế là những phẩm chất quan trọng nhất chủa đạo đức cộng sản chủ nghĩa, bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt ra khỏi quốc gia dân tộc.
+ Rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đk với giai cấp và toàn thế giới với tất cả các dân tộc và nhân dân của các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập và chủ nghĩa bành trướng bá quyền,… Hồ Chí Minh chủ trương giúp bạn là tự giúp mình.
+ Đoàn kết quốc tế nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị trên tinh thần: bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xay đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Đã tạo ra 1 kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đại, nhằm kiến tạo 1 nềm văn hóa hòa bình cho nhân loại.
b. Liên hệ bản thân:
+ Hiếu với dân:
. Quan tâm với bạn bè, mọi người xung quang, quan tâm học tèo, hiup1 đỡ người gặp khó khăn.
. Lắng nghe ý kiến bạn bè, vận động mọi người thực hiện chính sách của đảng, nhà nước.
+ Trung với nước:
. Trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội phải đac75 lợi ích của đảng, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.
+ Thực hiện tốt nhiệm vụ do xã hội phân công.
=> Cố dắn phấn đấu có kiến thức vững càng đào tạo thế hệ trẻ tốt hơn.
+ Thực hiện đúng dường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Thấy được vai trò sức mạnh to lớn của nhân dân.
- Tin dna6, học dân, lắng nghe ý kiến dân… tổ chức vận động nhân dân thực hiện đúng đường lối chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
- Không đua đòi, tiết kiệm tiền gđ chu cấp, tăng cường đọc sách báo nâng cao tri thức.
- Không tham ô của công, bảo vệ của công.
- Không tham gia vào tệ nạn xã hội.
:P học xỉu lun

_________________
Hải Yến


Đầu trang
 Xem thông tin cá nhân Gửi email  
 
Hiển thị bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 1 bài viết ] 

Múi giờ UTC + 7 Giờ


Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách.


Bạn không thể tạo chủ đề mới.
Bạn không thể trả lời bài viết.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình.
Bạn không thể xóa những bài viết của mình.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm.

Tìm với từ khóa:
Chuyển đến:  
Powered by phpBB © 2000, 2002, 2005, 2007 phpBB Group
Vietnamese translation by nedka